HOTLINE - 0978797763

PHAPTUE.COM - PHẬT GIÁO | SỨC KHỎE | LÀM ĐẸP - UY TÍN TỪ CHẤT LƯỢNG
  • Bán Rượu Hạt Cau - chữa đau răng viêm lợi

    Chuyên cung cấp sỉ và lẻ rượu hạt cau chất lượng chữa đau răng, viêm lợi, răng lung lay tại Tphcm, Hà Nội, Ship Hàng toàn quốc

  • Chữa Đau Răng Hiệu Quả Và Các Bệnh Về Răng Lợi

    Nơi Bán Rượu Cau Uy Tín nhất, hiệu quả nhất

Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐIỀU BÍ ẨN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐIỀU BÍ ẨN. Hiển thị tất cả bài đăng

Chuyện lạ về bà cụ chữa bệnh bằng Tụng Kinh Niệm Phật

Bà Lê Thị Tâm (76 tuổi ở ngõ 78, phường Phương Mai, quận Đống Đa, TP Hà Nội) từng bị bệnh ung thư cổ tử cung ác tính, đã đi phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản T.Ư. Khi phẫu thuật xong, bà ăn chay niệm Phật tự điều trị vết thương cho mình. Cũng bằng phương pháp đó, bà đã giúp đỡ hàng chục người nhiễm HIV trở lại với cuộc sống…





TỪNG BỊ 15 CĂN BỆNH QUÁI ÁC


Bà Lê Thị Tâm sinh ra và lớn lên ở miền quê nghèo xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Năm bà 18 tuổi, tỉnh đội Thanh Hóa về thôn bà để tuyển dân quân đi công tác tại tỉnh Thái Nguyên. Khi đó bà Tâm chỉ cao 1m45, nặng 35kg, không đủ tiêu chuẩn tuyển. Thấy bà khóc nức nở, vì không được chọn, người chỉ huy an ủi bà và bảo, nếu bà nâng được cái cối đá nặng gần 50kg họ sẽ đề xuất với lãnh đạo cho bà đi dân quân lần này. Mọi người hoàn toàn bất ngờ trước việc cô gái nhỏ bé lại có thể nâng được một vật lớn hơn cả cân nặng của mình.


Sau đó bà được nhận đi dân quân trên Thái Nguyên. Tuy sức vóc bà nhỏ bé, nhưng trong đơn vị bà làm việc không kém bất kỳ chị em nào. Lần nào đơn vị thi bắn, bà cũng đạt số điểm cao nhất, ba vòng mười. Năm 1965, bà được cơ quan cử đi học cơ điện tại thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Học xong bà được phân công làm Trưởng ban Giám sát điện năng quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội.


Nhưng rồi bệnh tật đã khiến bà phải rời xa công việc. “Tôi đang khoẻ mạnh bình thường, không hiểu sao bệnh tật lại nhiều thế. Ban đầu là bệnh viêm đầu thống, rối loạn thần kinh tiền đình, sau đó là hàng chục căn bệnh nan y khác. Trong đó, bệnh lao phổi là nguy hiểm nhất, bảy năm trời tôi đi hết bệnh viện này, đến bệnh viện khác để chụp chiếu, điều trị. Khổ nỗi cứ chữa được bệnh này khỏi, bệnh khác lại phát sinh. Lúc cao điểm nhất tôi bị không dưới 15 bệnh”, bà Tâm nhớ lại.


TÌM ĐƯỜNG ĐẾN PHẬT


Người viết bài không có ý định cổ súy cho mê tín dị đoan, mà chỉ nói về đức tin về thần Phật của một con người, để chiến thắng bệnh tật. Vốn từng tham gia nhiều hoạt động xã hội, từng vào sinh ra tử trong chiến tranh chống thực dân Pháp, bà Tâm chưa bao giờ tin vào tâm linh, cũng như thánh thần. Khi bệnh tật trong người làm sức lực kiệt quệ, bà Tâm đã đi đến nhờ nhiều bệnh viện chữa trị, trong suốt nhiều năm trời, nhưng bệnh tình càng ngày nặng hơn. Vì thế bà đã tìm đến thần Phật.


Bà Tâm đến gặp hòa thượng Thích Tâm Tịch (trụ trì chùa Quán Sứ lúc đó), giảng giải cho bà về kiếp luân hồi của con người, nói về khổ đau của người bệnh là có từ kiếp trước. Đồng thời, hướng dẫn cho bà Tâm cách đọc kinh sách để giảm đi nỗi đau bệnh tật. “Thay vào việc đến các bệnh viện điều trị bệnh, tôi ở nhà tụng kinh. Và điều kỳ diệu đã diễn ra, trong suốt 10 năm tôi không phải đi bệnh viện, sức khoẻ của tôi ổn định”, bà Tâm nhớ lại.


Nhưng bệnh tình của bà Tâm cũng chỉ được ổn định được một thời gian. Đến tháng 10/2010, khi bà đang làm việc bỗng thấy âm hộ bị ra máu, các con bà thấy lo lắng quá đưa bà sang Bệnh viện Thanh Nhàn để khám, họ nghi vấn bà bị ung thư cổ tử cung và giới thiệu cho bà sang Bệnh viện K (Hà Nội). Theo kết luận của Bệnh viện K, bà bị bệnh ung thư cổ tử cung ác tính. Cả gia đình giấu không cho bà biết vì sợ bà bị sốc, suy sụp.


Trái với sự lo lắng của mọi người, bà Tâm điềm tĩnh, hằng ngày bà vẫn ăn uống, làm việc bình thường. Mọi người trong gia đình muốn đưa bà đi phẫu thuật càng sớm càng tốt. Nhưng bà Tâm cương quyết không đến viện phẫu thuật, thay vào đó mỗi khi lên cơn đau bà mang kinh sách ra tụng. Mỗi lần tụng kinh cơ thể bà dễ chịu bớt đau đi nhiều. Tuy nhiên, căn bệnh của bà đã trầm trọng, khối u trên cơ thể của bà đã chuyển sang giai đoạn cuối, hoại tử, vỡ ra và chảy như một vòi nước. Nhờ các con đưa đi cấp cứu bà mới thoát khỏi cái chết. Sau đó bà được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản T.Ư.


KHỎI BỆNH NHỜ NIỆM PHẬT


Bà Tâm cho biết, bởi căn bệnh ác tính mang phải, ngay sau phẫu thuật xong, bà phải chuyển sang Bệnh viện Bạch Mai để xạ trị bằng máy gia tốc. Theo phác đồ điều trị của BS Phương khi đó, bà phải xạ trị 30 lần. Nhưng bà mới xạ trị chưa được nửa số đó thì vùng tiết niệu bị phù, không thể đi tiểu. Cơ thể mệt mỏi, bà đã xin với bác sĩ không xạ trị nữa. Bà không còn sức lực để điều trị. Về nhà hằng ngày bà mang các loại sách kinh Phật để tụng niệm, kết hợp với ăn đậu đen rang vàng, hạ thổ và uống thuốc Đông y.


Bà Tâm lấy cho chúng tôi tờ giấy kiểm tra sức khoẻ tại Bệnh viện Thanh Nhàn cuối năm ngoái, thật bất ngờ, khối u của bà đã biến mất hoàn toàn trên cơ thể. Sức khoẻ của bà ổn định. Đến khi nhìn vào tờ kết quả đó bà cũng không ngờ kỳ diệu đến thế. Bà Tâm bảo, nhiều người cho rằng bà khỏi căn bệnh nan y đó là nhờ thần Phật cứu giúp. Nhưng với bà đơn thuần đó là sự lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống. Bà chưa bao giờ tuyệt vọng kể cả trong sự đớn đau tận cùng của cơ thể. Bà khỏi bệnh nhờ kết hợp Đông y, Tây y và Phật pháp.


TỤNG KINH, NIỆM PHẬT CHỮA… HIV


Tôi thực sự bất ngờ khi bà Tâm nói rằng phương pháp niệm Phật đã giúp cho nhiều người có căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS khoẻ mạnh và tin yêu trong cuộc sống. Từ năm 2006, bà Tâm đã kết hợp với GS.TS Phan Thị Phi Phi (trường Đại học Y Hà Nội), Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người, áp dụng phương pháp tụng kinh niệm Phật để chữa trị cho những người bị HIV/AIDS.


Năm 2006, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên 28 bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó có 20 trường hợp nhiễm bệnh sớm và trung gian, 8 trường hợp muộn mới xét nghiệm. 23 bệnh nhân đầu tiên đều được xét nghiệm 2 lần (trước và sau tụng niệm). Kết quả cho thấy, đa số các bệnh nhân khi tụng kinh, niệm Phật đều tăng các thành phần miễn dịch tế bào, đặc biệt họ không chuyển sang giai đoạn AIDS, sức khoẻ của họ tốt hơn trước đó. Tuy nhiên, theo bà Tâm đó là những kết quả ban đầu.


Bà Tâm bảo, căn bệnh này y học hiện đại của thế giới cũng đã phải bó tay, nhưng điều kỳ diệu là bà đã truyền cho họ ngọn lửa của tình yêu cuộc sống. Nhờ tụng niệm mà nhiều người từ sức lực kiệt quệ, muốn tìm đến cái chết đã sống khoẻ mạnh.


Theo sự chỉ dẫn của bà Tâm, chúng tôi đã đến gặp gia đình anh Nguyễn Quốc Khanh (thôn Mạch Tràng, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, TP Hà Nội). Anh Khanh buồn bã cho biết, mấy năm trước vì bị bạn bè rủ rê đi chơi bời, quan hệ tình dục với gái mại dâm nên anh đã mắc bệnh. Năm 2007, thấy trong người mệt mỏi, đi khám mới biết mình bị nhiễm HIV. Thật buồn bã thay, người vợ và con trai út của anh cũng bị nhiễm bệnh. “Tôi vốn hiền lành, khi bị bệnh mọi người rất bất ngờ. Trước đây sức khoẻ của tôi rất yếu, chỉ nằm một chỗ. Từ khi gặp bà Tâm, bà đã dạy tôi đọc kinh Phật. Vì thế sức khoẻ và tinh thần được nâng cao. Hơn một năm nay tôi đã đi làm, có lương hằng tháng để nuôi vợ con”, anh Khanh cho biết.


Bà Tâm nói: “Theo đạo Phật thì con người có số phận, bệnh tật là do Nghiệp gây ra. Nếu ai đó tu dưỡng, trì tụng bằng kinh Phật tốt thì Nghiệp có thể thay đổi, bệnh tật có thể sẽ khỏi. Và nếu như ai đó muốn thực hiện phương pháp này đầu tiên phải có đức tin, tin tưởng vào Phật pháp mới giúp con người ta chiến thắng bệnh tật”.


(Theo báo Kiến Thức)

(Theo duongvecoitinh.com)

Nên bỏ gì vào ví đầu tháng đầu năm để tiền vô như nước?

Và như nhắc đến lúc đầu, Phaptue.com sẽ giới thiệu cho các bạn tham khảo cách bỏ vật hợp phong thủy vào ví để khiến cuộc sống bạn may mắn, thuận lợi và tiền vô như nước nhé!

Nên bỏ gì vào ví để tiền vô như nước?


Có thể bạn không tin, nhưng sự thật trong Vũ Trụ này việc bố trí hay ứng dụng phong thủy hợp lý ít nhiều sẽ mang lại những thay đổi tích cực trong cuộc sống của bạn. Mặc dù chúng ta biết rằng, số phận chúng ta tốt hay xấu phụ thuộc phần lớn vào nghiệp và nhân quả riêng của mỗi người. Tuy nhiên, khi ứng dụng hợp lý về phong thủy thì đó cũng như cái duyên thuận lợi giúp ta dễ dàng đến với những quả tốt hơn.

Thuận theo phong thủy tức là thuận theo quy luật tự nhiên của Vũ Trụ


Ngày bạn biết đến phong thủy, đó tức là một cái duyên tốt khiến bạn hành động và sắp xếp, bố trí các vật, các việc trong cuộc sống được hợp lý hơn, thuận theo tự nhiên của Vũ Trụ hơn, tạo thuận lợi cho những nhân duyên tốt được phát khởi. 

Thuận theo phong thủy, tức là thuận theo quy luật tự nhiên với vũ trụ nhất và điều này chắc chắn sẽ giúp cho cuộc sống của bạn tốt dần lên. Tuy nhiên bạn cũng đừng nên vì nó mà cứng ngắt, làm phiền não mình và người thân. Nếu ứng dụng phong thủy khiến bạn và gia đình vui vẻ thuận hòa thì làm, còn nếu khiến gia đình mâu thuẫn thì bỏ qua, đừng nên khăng khăng chấp nhất bất cứ một điều gì cũng đều không tốt. Và muốn cuộc sống thuận lợi tốt đẹp thì nên gieo nhân tốt như bố trí, ăn chay, sám hối, phóng sanh, tụng Kinh, trì chú, ngồi Thiền...

Muốn đời sống tốt hơn thì nên hành thiện, bố thí, phóng sanh


Và như nhắc đến lúc đầu, Phaptue.com sẽ giới thiệu cho các bạn tham khảo cách bỏ vật hợp phong thủy vào ví để khiến cuộc sống bạn may mắn, thuận lợi và tiền vô như nước nhé!

Bạn nên để ý, Mệnh nào vật nấy. Hãy đặt ngay thứ này vào ví để được may mắn cả tháng. Ai chưa làm thì làm ngay đi nhé!

Hãy mang theo những đồ vật này trong túi xách hoặc cho vào ví để rước may mắn tài lộc. Tùy vào từng mệnh mà chọn cho mình vật phù hợp. Hãy mang theo những đồ vật này để được may mắn cả tháng.


Mệnh mộc: Mang theo muối

Người mệnh Mộc thì bỏ muối trắng (Kim) vào ví, như thế sẽ giúp dưỡng mệnh rất tốt. Từ đó tiền tài sẽ tự chui vào ví.

Mệnh mộc mang theo muối


Bạn có thể lấy tờ giấy bạc, gói một ít muối và cho vào bất cứ ngăn nào của ví. Như vậy, bạn đã mang trong mình lá bùa cầu tài cực linh nghiệm rồi đấy.

Mệnh kim: Mang theo đất

Mệnh kim mang theo đất


Để dễ hình dung bạn có thể hiểu mệnh Kim là kim loại, theo thuyết ngũ hành tương sinh thì Thổ sinh Kim. Đây chính là lý do vì sao những người mệnh Kim nên để đất vào túi bởi đất là tượng trưng của mệnh Thổ. Cho đất vào túi sẽ giúp vượng phát cho người  mệnh Kim, thúc đẩy sự vượng phát tài lộc.
image: 

Mệnh thủy: Mang theo bạc

Những vật phẩm bằng bạc tượng trưng cho mệnh Kim, vì Kim sinh Thủy nên để bạc bên người sẽ giúp làm lợi cho người mệnh Thủy.

Mệnh thủy mang theo Bạc


Sở dĩ nói Kim sinh Thủy không phải vì bạc được nung chảy thành nước mà tạo ra nước, mà bởi Kim là biểu tượng tượng trưng cho ông trời, hiện tượng nước mưa từ trên trời rơi xuống được hiểu là do trời tạo ra. Vậy nên trời tạo ra mưa đồng nghĩa với Kim sinh Thủy.


Mệnh hỏa: Mang theo  gỗ

Mệnh Hỏa là lửa, vì Mộc sinh Hỏa thế nên muốn làm cho mệnh Hỏa thêm vững chãi, may mắn thì cần vật phẩm phong thủy thuộc mệnh Mộc. Gỗ là mệnh Mộc, thế nên đây là lựa chọn hoàn hảo cho ai có mệnh Hỏa.

Mệnh hỏa mang theo gỗ


Nếu là gỗ lấy từ cây đang sống là tốt nhất.


Mệnh thổ: Mang theo bật lửa hoặc bao diêm

Sở dĩ những người mệnh Thổ nên để bật lửa hoặc bao diêm trong túi vì theo ngũ hành thường sinh Hỏa sinh Thổ, nôm na như mọi vật bị lửa thiêu rụi sẽ thấm vào đất, bồi dưỡng và làm cho đất thêm tốt tươi.

Mệnh thổ mang theo bật lửa hoặc bao diêm


Không chỉ tăng may mắn về tiền bạc, vật phẩm này còn giúp tăng may mắn về đường tình duyên cho người mệnh Thổ.

Các bạn hãy ứng vào các cung mệnh dưới đây để dò xem mệnh mình là gì nhé. Xem ở cột MỆNH chứ không phải MẠNG nhé cả nhà.

Bảng này thông tin mệnh từ năm 1921 - 2028 nhé.
Hướng dẫn cách xem, dò năm sinh của bạn, nếu là Nam thì dò bên cột NAM trái, nếu là NỮ thì dò bên cột NỮ phải, dò ở cột mệnh.
Ví dụ: Nữ 1991 sẽ thuộc mệnh kim, Nam 1995 thuộc mệnh Thổ.





*Lưu ý: Thông tin mang tính tham khảo, chúc mọi người có cuộc sống thuận lợi hơn sau khi ứng dụng.
Phaptue.com


Tin đọc nhiều 

Chuyện Luân Hồi: Cậu bé nhớ tiền kiếp mình là "người Sao Hỏa"

Cậu được gọi tên là "Cậu bé sao Hỏa".
Những trường hợp trẻ em có thể nhớ được quá khứ của mình không còn hiếm. Và việc tranh luận về thuyết luân hồi đã không còn là chủ đề hấp dẫn ngay cả trong cộng đồng khoa học.
Carl Sagan, một nhà thiên văn và sinh học người Mỹ, thậm chí còn thừa nhận thực tế rằng sự luân hồi xứng đáng được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Vấn đề "đôi khi trẻ em nhớ được các thông tin của kiếp trước một cách chính xác mà không có cách giải thích nào hợp lý hơn là sự luân hồi".
Có một số ví dụ rất cụ thể, rất nhiều trường hợp như vậy đã được phát hiện bởi bác sĩ tâm thần Jim Tucker ở Đại học Virginia, người được cho đi đầu trên thế giới trong lĩnh vực này. Năm 2008, ông công bố một bài viết về các trường hợp được cho là giống sự luân hồi trong một tạp chí.
Cậu bé sao Hỏa Boriska.
Một trường hợp điển hình của sự luân hồi, được Jim mô tả lại, bao gồm cả mô tả về trải nghiệm của đối tượng khi sống ở "kiếp trước". Thú vị là đối tượng đã mô tả chính xác về kiếp trước của mình lại là những đứa trẻ. Độ tuổi trung bình khi những đứa trẻ này bắt đầu nhớ lại kiếp trước của mình là khoảng 35 tháng tuổi, và việc mô tả các sự kiện và trải nghiệm kiếp trước thường là các thông tin cụ thể, các chi tiết đáng nhớ trong đời. Những thông tin này không thể có ai khác biết được chính xác ngoại trừ bản thân họ đã từng trải qua. Họ đã được đưa đến các gia đình kiếp trước của mình, xác nhận địa chỉ, nghề nghiệp và các chi tiết khác mà họ đã sống ở kiếp trước.
Có rất nhiều người tin rằng sự luân hồi là có thật, nhưng liệu đó là lựa chọn duy nhất cho những gì diễn ra sau khi chết? Hay nó chỉ là một trong nhiều lựa chọn khác nhau cho linh hồn con người sau khi chết? Một số người tin rằng, có những linh hồn có thể luân hồi trở thành một người khác, như chúng ta thấy ở trên. Một số khác có thể luân hồi, tái sinh ở trên một hành tinh khác, trở thành người ngoài trái đất. Thậm chí họ tin rằng luân hồi chỉ là một lựa chọn của linh hồn.
Các khả năng khác bao gồm cả lựa chọn đi đến những chiều không gian khác và trải nghiệm cuộc sống ở đó hoặc lựa chọn không luân hồi và trải nghiệm cuộc sống phi vật chất. Có thể nào, một linh hồn bắt buộc phải luân hồi cho đến khi được "giác ngộ" và lên một "đẳng cấp" mới? Ai mà biết được. Hay có lẽ, linh hồn có một nguồn gốc, bắt nguồn từ một nơi nào đó? Có rất nhiều câu hỏi, quá nhiều khả năng có thể xảy ra và sự luân hồi có thể một trong số đó.

Một video về Boriska trong một cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi Kerry Cassidy của Dự án Camelot. Đây là một trường hợp rất đặc biệt, liên quan đến một kiếp trước ở trên sao Hỏa. Đây không phải là một cậu bé bình thường. Mẹ của em khẳng định rằng cậu bé bắt đầu nói khi mới bốn tháng tuổi và phát âm một cách đầy đủ các từ ít lâu sau. Tám tháng tuổi, cậu bé đã nói thành thạo thành các câu và khi hai tuổi thì đã có thể đọc.
Cậu bé trở nên nổi tiếng trong vùng vì quá thông minh, và khi ba tuổi thì cậu có thể đọc tên tất cả các hành tinh của Hệ Mặt trời, biết được có bao nhiêu thiên hà và nhiều điều khác. Cậu bé đã biết quá nhiều về thiên văn học và điều này là bất khả thi với một đứa trẻ cùng tuổi. Các bạn có thể xem video trên youtube thông qua tiêu đề "Project Camelot Interviews Boriska". Sau đây là một số trích dẫn trả lời phỏng vấn của Boriska.
"Người sao Hỏa có thể di chuyển đến rất nhiều thiên hà và các hệ hành tinh".
"Có những phi thuyền giống như máy bay. Nó có hình tam giác. Có những con tàu giống như hình giọt nước".
Cậu bé nói rằng những phi thuyền này sử dụng "năng lượng plasma, năng lượng ion. Nếu sử dụng nhiên liệu là xăng thì tiêu tốn rất nhanh, động cơ quá mạnh".
Cậu bé cũng nói về sự dịch chuyển tức thời rằng: "cổng dịch chuyển làm chậm thời gian và mở ra một lỗ hổng nơi mà thời gian chạy cực nhanh... Tôi không thể nói chính xác. Tôi không thể nhớ. Nó mở ra một chiều và sau vài giây hoặc vài phút, nó mở ra ở một nơi khác trong vũ trụ".
"Không phải tất cả các phi thuyền đều giống nhau. Các con tàu sử dụng động cơ plasma bị giới hạn di chuyển chỉ trong Hệ Mặt trời với tốc độ cao. Các con tàu có hình dạng giọt nước có thể chở được các con tàu khác".
"Trái đất có công nghệ và sự phát triển của riêng mình. Ví dụ, nếu chúng ta có động cơ plasma và ion thì những giống loài khác có động cơ năng lượng".
Cậu bé đã nói về các giống loài khác ở các hành tinh khác, sự hợp tác và chiến tranh giữa các hành tinh. Cậu ta còn nói về những người vẫn đang sống ở sao Hỏa, nhưng họ sống bên dưới bề mặt và sâu trong hành tinh. Cũng theo cậu bé, những người này hít thở khí CO2.
Cách đây không lâu khi NASA kêu gọi một cuộc họp báo để công bố một khám phá quan trọng liên quan đến sao Hỏa. Trong cuộc họp, họ đã tiết lộ một số thông tin gây sốc, làm thay đổi hoàn toàn nhận thức của chúng ta về hành tinh "đỏ". Họ công bố rằng sao Hỏa thực sự có những con sông có nước chảy. Những gì chúng ta tin rằng chỉ là sa mạc khô cằn và sỏi đá thực ra là một mùa, không giống như Trái đất của chúng ta.
Lujendra Ojha, một nhà khoa học hành tinh tại Viện Công nghệ Georgia đã khám phá ra bằng cách sử dụng những hình ảnh từ Vệ tinh Do thám sao Hỏa của NASA.
Trích dẫn dưới đây được lấy từ cuộc họp báo.
"Sao Hỏa không chỉ là một hành tinh sa mạc khô cằn như chúng ta nghĩ trước đây... và nước ở dạng lỏng đã được tìm thấy trên sao Hỏa". James Green, giám đốc khoa học hành tinh của NASA.
Rõ ràng, với tuyên bố rằng tìm thấy nước ở sao Hỏa, khả năng xuất hiện sự sống ở gần bề mặt trở nên hợp lý hơn. Buổi họp báo cũng đi vào chi tiết về khí quyển và điều kiện ở sao Hỏa và làm cách nào mà sao Hỏa có thể hỗ trợ sự sống trong quá khứ.
"Chúng tôi đang tới sao Hỏa, hành trình của chúng tôi đến sao Hỏa là một cuộc thám hiểm khoa học, nhưng sẽ rất sớm thôi chúng tôi mong rằng có thể đưa con người lên hành tinh đỏ để khám phá và khoa học sẽ dẫn đường. Tuyên bố tìm thấy nước trên sao Hỏa là một trong những lý do tại sao tôi cảm thấy đúng đắn khi đưa các nhà sinh học và khoa học hành tinh lên sao Hỏa. Điều này sẽ trả lời cho câu hỏi "Liệu có sự sống trên sao Hỏa?"", John Grunsfeld, Phó chỉ huy Nhiệm vụ Khoa học của NASA.
Đây là một viện trích thú vị, liên quan đến việc Boriska đã nói về con người sống bên dưới bề mặt sao Hỏa.
"Khả năng của sự sống bên trong sao Hỏa luôn luôn rất cao. Chắc chắn có nước ở đâu đó ở lớp vỏ sao Hỏa... Nó rất giống, như tôi nghĩ rằng có sự sống đâu đó ở lớp vỏ của sao Hỏa". Alfred McEwen, Giám đốc Ngiên cứu, HiRISE, Đại học Arizona.
Bên dưới đây là một vài trích dẫn thú vị nữa, bởi cậu bé cũng nói rằng sao Hỏa trải qua một số thay đổi khí hậu lớn.
"Chúng ta càng quan sát sao Hỏa, chúng ta càng thấy nó là một hành tinh hấp dẫn, từ robot thám hiểm tự hành Curiosity mà chúng ta biết rằng sao Hỏa rất giống với Trái Đất với vùng biển dài mặn, hồ nước ngọt, những ngọn núi phủ tuyết trắng, những đám mây và chu kỳ của nước giống như Trái Đất... Nhưng có cái gì đó đã diễn ra ở sao Hỏa, nó bị mất nước", John Grunsfeld nói.
John cũng thảo luận về khả năng có thể sao Hỏa trước đây duy trì được sự sống, trước khi một sự kiện nào đó diễn ra làm cho hành tinh bị biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học vẫn đang vật lộn để tìm ra sự kiện hoặc chuỗi sự kiện có thể đã xảy ra.
"Sao Hỏa giống với Trái Đất nhất... (trong quá khứ) sao Hỏa là một hành tinh rất khác, nó có một bầu khí quyển rộng lớn và chúng tôi tin rằng nó từng tồn tại một đại dương khổng lồ và rất sâu. Như vậy sao Hỏa thật sự có nguồn tài nguyên nước phong phú ba tỷ năm trước. Nhưng có chuyện gì đó đã diễn ra. Khí hậu ở bề mặt sao Hỏa biến đổi và mất đi nguồn nước bề mặt", James Green cho biết.
Các nhà khoa học nhấn mạnh một thực tế rằng có gì đó đã diễn ra và là nguyên nhân chính thay đổi khí hậu sao Hỏa. Trong cuộc phỏng vấn trên, cậu bé cũng nói về vấn đề này.
Theo Tiến sĩ John Brandenburg, nhà vật lý plasma, sự sống trên sao Hỏa đã bị tiêu diệt bởi chiến tranh hạt nhân. Ông cũng tin rằng một vài nền văn minh từ thời cổ đại đã nhắn đến điều này và trong tác phẩm xuất bản của mình, ông cho rằng màu sắc và thành phần đất của sao Hỏa là hỗn hợp sau những vụ nổ phân hạch. Từ đó dẫn đến phơi nhiễm phóng xạ hành tinh.

(Theo Tri Thức Trẻ)

Tin đọc nhiều 

Giải Nobel y sinh học 2016: Phảng phất ý niệm "vô thường - sinh diệt" của đạo Phật

 Phát hiện về cơ chế tự thực của GS. Yoshinori Oshumi không chỉ có ý nghĩa khoa học, mà còn phảng phất triết lí Phật. Quá trình tái sinh của tế bào là một khía cạnh của ý niệm vô thường.
Năm nay, giải Nobel y sinh học (trị giá gần 940,000 USD) được trao cho một nhà khoa học Nhật: Giáo sư Yoshinori Oshumi. Ông hiện là giáo sư của Học Viện Công nghệ Tokyo (Tokyo Institute of Technology). Ông là người Nhật thứ 4 được trao giải Nobel y sinh học, và người Nhật thứ 25 được trao giải Nobel.


Năm ngoái giải Nobel được trao cho bà Đồ U U về những công trình liên quan đến nghiên cứu lâm sàng (bệnh sốt rét), nhưng năm nay thì giải được trao cho một nhà nghiên cứu cơ bản. Điểm đặc biệt năm nay là giải chỉ trao cho 1 người. Trong thời đại Khoa học Lớn với nhiều hợp tác nghiên cứu, giải Nobel thường được trao cho một nhóm người, và số giải được trao cho 1 người càng ngày càng hiếm. Nhưng giải thưởng cho Giáo sư Oshumi được cộng đồng khoa học đánh giá là hoàn toàn xứng đáng, vì công trình của ông giúp cho chúng ta hiểu biết nhiều hơn về cơ thể mình, và mở ra một cánh cửa mới cho y học tương lai.
Giải thưởng năm nay ghi nhận khám phá liên quan đến cơ chế sinh tử của tế bào, được đặt tên tiếng Anh là macroautophagy, nhưng thường thì gọi tắt làautophagy. Thuật ngữ autophagy xuất phát từ tiếng Hi Lạp, có nghĩa là "tự ăn", nhưng có lẽ dịch sang tiếng Việt là "tự thực". Thật ra, nghĩa đúng và đầy đủ là quá trình tế bào tái sinh.
Tự thực
Để hiểu khái niệm tế báo tái sinh hay tự thực, có lẽ chúng ta bắt đầu với protein. Protein là một thành tố rất ư quan trọng cho sự tăng trưởng và duy trì cơ thể con người. Mỗi ngày, cơ thể chúng ta cần khoảng 0.8 g trên 1 kg trọng lượng cơ thể. Một người đàn ông trung bình nặng 75 kg, thì lượng protein tôi cần là khoảng 0.8 x 75 = 60 g. Cố nhiên, đây là cách ước tính cực kì đơn giản, chứ trong thực tế thì phức tạp hơn, do lượng protein còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Nói chung, cơ thể chúng ta cần khoảng 60 đến 80 g protein mỗi ngày.

Nhưng mỗi ngày, để duy trì sức khoẻ bình thường, cơ thể chúng ta phải đào thải một lượng protein bị hư hỏng, và thay thế chúng bằng protein mới. Tính chung, mỗi ngày cơ thể chúng ta cũng cần phải thay thế khoảng 200 đến 300 g protein. Nhưng trong khi chúng ta chỉ thu nạp chỉ khoảng 60-80 g, và hơn phân nửa là bị thải ra, vậy thì lấy đâu để thay thế? Đó là "bí mật" của cơ thể. Giáo sư Yoshinori Oshumi tìm ra được cơ chế thay thế đó. Hoá ra, các tế bào và protein trong chúng ta có khả năng tái sinh (recycling). Nói cách khác, trong điều kiện thiếu thốn, các protein tự chúng tái sinh để đáp ứng đủ khối lượng protein mà cơ thể cần thiết. Cơ chế tái sinh này được đặt tên là autophagy. Ý nghĩa "tự thực" được hiểu từ cơ chế đó.
Phảng phất triết lí Phật
Khái niệm sinh - diệt của tế bào rất gần với ý niệm "vô thường" trong Phật giáo. Kinh Tứ Thập Nhị Chương có thuật một câu chuyện, mà theo đó Đức Thế Tôn hỏi các tỳ kheo rằng con người sống bao lâu. Người thì trả lời là 100 năm, người cho rằng 70 năm, người lại nói vài tháng. Chỉ có một tỳ kheo nói rằng mạng người sống chỉ có một hơi thở! Đức Thế Tôn khen vị tỳ kheo đã hiểu đúng về định luật vô thường của sự sống. Định luật vô thường ở đây có thể hiểu là chu trình thành - trụ - hoại - không. Chu trình này diễn ra liên tục trong cơ thể chúng ta.
Thật vậy, trong thực tế sinh học, tất cả chúng ta sống và chết trong một giây, và qui trình sinh - diệt này diễn ra một cách liên tục, cho đến ngày chúng ta giã từ trần thế. Một ví dụ tiêu biểu là trong xương chúng ta, có hai loại tế bào lúc nào cũng làm việc song hành với nhau, một loại tế bào chuyên đục xương cũ (gọi là tế bào huỷ xương), và sau đó một loại tế bào khác lấp vào đó những xương mới (tế bào tạo xương). Qui trình huỷ diệt và sinh mới này diễn ra liên tục. Do đó, cứ mỗi 10 năm chúng ta có một bộ xương mới hoàn toàn. Trường hợp tiêu biểu về chu trình huỷ - sinh của xương cũng có thể dùng để giải thích chu trình của tất cả các tế bào khác trong cơ thể con người.
Do đó, nói rằng chúng ta chết và sống trong từng giây không phải là một ví von, một mĩ từ tôn giáo, mà là một thực tế sinh học. Phát hiện của Giáo sư Yoshinori Oshumi tuy không mới nhưng giải thích được cái cơ chế của định luật vô thường qua phương pháp khoa học hiện đại.
Ý nghĩa của tự thực
Hiện nay, lĩnh vực nghiên cứu về tự thực vẫn còn trong giai đoạn sơ khai, và thành quả thực tế còn rất hạn chế. Phát hiện của Gs Oshumi không (và chưa) dẫn đến một phương pháp điều trị. Tuy nhiên, khái niệm tự thực được sự quan tâm của rất nhiều chuyên khoa. Rất nhiều labo trên thế giới đang theo đuổi nghiên cứu về tự thực cho các bệnh lí phổ biến, và cả vấn đề kháng thuốc. Chẳng hạn như có vài nghiên cứu cho thấy cơ chế tự thực giải thích tại sao một số bệnh nhân ung thư và một số bệnh nhân lao phổi kháng thuốc. Một vài thử nghiệm gần đây cho thấy can thiệp vào cơ chế tự thực có thể giảm tình trạng kháng thuốc, và qua đó nâng cao hiệu của của thuốc. Nhưng hãy còn quá sớm để có một thuốc mới cho việc điều trị các bệnh lí phức tạp.
Phát hiện về chu trình tái sinh của tế bào và protein chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về cơ chế bệnh lí, về sự tồn tại của chính chúng ta. Chẳng hạn như chúng ta hiểu tại sao trong thời kì đói khát, cơ thể có thể duy trì sự sống một thời gian khá lâu. Chúng ta cũng có thể giải thích tại sao chúng ta "lão hoá", mất xương, bị ung thư, bị tiểu đường, v.v.  Cơ chế autophagy cũng giải thích tại sao cơ thể chúng ta có thể tự sửa chữa những tổn hại như lành xương sau gãy xương chẳng hạn.

Giáo sư Yoshinori Ohsumi trong cuộc họp báo tại Tokyo sau khi nhận thông báo về giải thưởng Nobel Y học 2016. Ảnh: AFP/TTXVN
Ông sinh năm 1945, tức năm nay đã 71 tuổi. Đây cũng là tuổi trung bình của "chủ nhân" giải Nobel y sinh học. Tôi thấy cuộc đời và sự nghiệp của ông là một bài học về sự kiên trì theo đuổi mục tiêu.
Nhìn chung, ông không có một sự nghiệp sáng chói như các nhà khoa học phương Tây. Ông tốt nghiệp cử nhân năm 1967 (ĐH Tokyo), tiến sĩ năm 1972 (ĐH Tokyo), làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại Rockefeller từ 1974-1977. Rockefeller là một trong những trường có nhiều giải Nobel. Nói chung, bước đầu sự nghiệp của ông -- nói theo ngôn ngữ giới khoa học -- là những "right addresses" (địa chỉ đúng).
Năm 1977 ông quay về Nhật, nhưng mấy năm đầu không có công trình nổi trội. Thoạt đầu, ông chỉ làm "Research Associate" (cao hơn phụ tá nghiên cứu một chút) ở ĐH Tokyo cho đến năm 1986. Mãi đến năm 1988, tức 11 năm sau tốt nghiệp tiến sĩ, ông mới có labo riêng. Và, lúc có lab riêng, ông cũng chỉ giữ chức giảng viên mà thôi. Từ năm 1988 (năm đầu tiên công bố công trình autophagy) ông mới được bổ nhiệm Associate Professor (Phó giáo sư), và ông ở chức vụ này gần 10 năm trời! Nhưng đó là thời gian ông củng cố thực lực để làm dự án lớn. Ông cho biết lúc đó, chẳng ai trong giới khoa học quan tâm đến ý tưởng tự thực cả, nhưng ông không bỏ cuộc.
Đến năm 1996, ông chuyển sang Viện Sinh học Cơ bản, và được thăng chức Full Professor. Nói cách khác, phải tốn 20 năm trời sau tiến sĩ, ông mới đạt được chức vụ quan trọng, và đó là một thời gian hơi dài. Nhưng lúc đó, ông đã chuyển sang nghiên cứu trên người, và sự nghiệp bắt đầu khởi sắc. Ông được xem là một trong những nhà khoa học có nhiều trích dẫn (highly cited scientist), top 0.1% trong y học.
Tuy nhiên, những nghiên cứu của ông chỉ được "công nhận" từ 2005 trở đi. Lúc đó, vì có nhiều người theo đuổi autophagy mà ông dẫn đầu, nên ông có một cộng đồng đồng nghiệp, và họ đề cử ông những giải thưởng cao quí. Mãi đến 2006 ông mới được một giải thường hạng trung của Nhật. Không như các nhà khoa học khác (trước khi được trao giải Nobel họ thường được giải Lasker), ông Oshumi không có giải đó. Thật ra, giải Nobel là giải danh giá mà ông có được lần đầu!
Với một sự nghiệp như thế Gs Yoshinori Oshumi là người có thể đưa ra những lời khuyên cho giới trẻ. Ông nói rằng sau một thời gian loay hoay với hướng đi của người khác mà không thành công, ông nhận ra là ông phải có hướng đi riêng. Ông nói tôi muốn làm cái gì đó khác với người khác, và tôi nghĩ quá trình sinh huỷ sẽ là một chủ đề thú vị. Làm theo người khác chỉ để học nghề thì rất tốt, nhưng sau khi học nghề thì phải có một hướng đi cho riêng mình. Đó là bài học về hành trình và sự nghiệp của ông.
Gs Yoshinori Oshumi đã mở một cánh cửa cho khoa học, hay nói theo ngôn ngữ khoa học, ông đã tạo ra một trường phái mới. Ông nói với giới khoa học trẻ rằng không phải ai cũng có thể thành công trong khoa học, nhưng điều quan trọng là chúng ta phải đối diện với thách thức trong nghiên cứu. Thiết nghĩ câu nói này cũng rất thời sự tính cho các bạn đang theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học.
Phát hiện về cơ chế tự thực của Gs Yoshinori Oshumi không chỉ có ý nghĩa khoa học, mà còn phảng phất triết lí Phật. Quá trình tái sinh của tế bào là một khía cạnh của ý niệm vô thường. Thật ra, rất nhiều những gì mà giới khoa học ngày nay gọi là "khám phá" hay "phát hiện" thực chất chỉ là minh hoạ và giải thích những ý niệm đã được Phật phát biểu cách đây hơn 2500 năm. Nhưng cái đẹp của khoa học hiện đại là những phương pháp tinh vi và chính xác có thể giúp chúng ta xác minh và hiểu tốt hơn những ý tưởng cổ điển mà các bậc hiền triết ngày xưa nghĩ đến.
Những bài học từ sự nghiệp của Gs Yoshinori Oshumi
Bài học 1: "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng". Trong khoa học, để thành công, cần phải chọn những "địa chỉ đúng", và làm việc theo nhóm. Làm việc với những labo có tiếng và có thành tích tốt thì nghiên cứu sinh học được nhiều điều từ họ. Còn làm với những nhóm "làng nhàng" thì suy nghĩ và cách làm cũng chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa trung bình.

Bài học 2: Chọn cho mình một hướng đi. Để thành công trong nghiên cứu, ngoài làm việc theo nhóm để có kĩ năng, còn phải chọn một hướng đi. Nếu theo hướng đi của người khác thì mình chỉ là người theo sau (follower); còn tạo cho mình một hướng đi mới thì mình là người đi đầu (leader). Đi đầu tốt hơn theo sau người khác.

Bài học 3: Khởi đầu có thể lao đao, nhưng kiên trì sẽ có quả trái xứng đáng. Như chúng ta thấy, mấy năm đầu ông loay hoay mà chẳng ai ghi nhận, nhưng cứ theo đuổi đến cùng thì thành công.

Bài học 4: Phải nắm lấy kĩ thuật. Làm khoa học là phải có tự trang bị cho mình phương pháp, vì phương pháp giúp cho mình độc lập. Có ý tưởng là quan trọng số 1, có kĩ thuật hoặc phương pháp để thực hiện ý tưởng là quan trọng số 2. Do đó, phải rèn luyện kĩ thuật khi còn làm tiến sĩ hay hậu tiến sĩ.

Bài học 5: Không cần chạy theo những giải thưởng hào nhoáng. Khi công trình được nhiều người biết đến và đem lại phúc lợi cho nhiều người (ví dụ như trường hợp bà Đồ U U) thì người ta sẽ biết đến và ghi nhận.
GS.Ts Nguyễn Văn Tuấn
(từ Australia)
Nguồn: Sức Khỏe Đời Sống.

Bí mật: những căn bệnh uống thuốc hoài không khỏi phải làm sao?

Để ý thấy, trên thế gian này có rất nhiều người đã vướng vào những căn bệnh vô phương cứu chữa. Nghĩa là có uống thuốc, có phẫu thuật hay dùng bất cứ phương thuốc gì cũng đều không khỏi bệnh, vậy bí mật ở đây là gì? Nếu quý vị rơi vào trường hợp đó, thì không còn đơn giản là thân bệnh trong đời hiện tại nữa, mà có thể là do nghiệp, từ nhiều đời nhiếu kiếp mà chiêu cảm bệnh khổ hiện đời. Đã là nghiệp, thì phải dứt hoặc giảm nghiệp mới hết bệnh, cho nên chúng ta cần phải hiểu rõ.

Như ta đã biết, Đức Phật là Đại Y Vương, trị khắp các bệnh nơi thân và tâm của chúng sanh. Y sĩ trong thế gian chỉ trị được cái thân, dẫu cho y thuật cao siêu, xét đến kết quả thì trọn chẳng có ích gì cho thần thức của người bệnh ấy. Ông đã quy y Tam Bảo, phát Bồ Đề tâm, trị bệnh cho người ta, thì trong lúc trị thân bệnh, hãy nên kèm vào cách trị tâm bệnh. 

Vì sao nói vậy? 



Phàm những bệnh ngặt nghèo nguy hiểm, phần lớn là do sát nghiệp trong đời trước hay trong đời này tạo thành, nhưng người có bệnh ắt phải đoạn tuyệt chuyện ăn nằm mới chóng lành bệnh. Muốn giảm sát nghiệp trong đời trước hay trong đời hiện tại, phải kiêng giết ăn chay.

Lại còn phải chí thành niệm Phật và niệm Quán Âm, ắt bệnh sẽ mau được lành, vừa vun bồi đức, vừa gieo thiện căn. Nếu là bệnh do oán nghiệp thì ngoại trừ cách này ra, chắc chắn khó thể lành bệnh. Người ấy và cha mẹ, vợ con trong nhà do tâm gấp rút mong được lành bệnh, chưa chắc không chịu hành theo. Nếu họ chịu hành theo, sẽ gieo được thiện căn xuất thế. Từ đây sanh tâm chánh tín, sau này chắc sẽ do vì điều này mà liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, đối với người ấy và đối với ông đều có lợi ích to lớn!



Đối với chuyện đoạn dục, hãy nên coi đó là cách trọng yếu bậc nhất để trị bệnh. Bất luận nội chứng hay ngoại chứng, bệnh chưa được lành lặn vẹn mười, muôn vàn chớ nên dính đến chuyện ăn nằm. Hễ nhiễm vào chuyện ăn nằm, bệnh nhẹ sẽ thành nặng, bệnh nặng có thể bị chết ngay, hoặc chẳng chết liền nhưng đã trở thành cái nhân ắt phải chết. Muốn chẳng bị chết, cũng thật khó khăn lắm! Dẫu cho không chết, chắc là trở thành kẻ bấy bớt, tàn phế, chắc chắn khó thể giữ được sức khỏe. Chẳng biết là do chính mình chẳng khéo dưỡng sức, lại đổ hô “y sĩ chẳng có bản lãnh thật sự!”

Bất luận nam hay nữ (đối với gái trinh và bà góa thì chẳng nên nói, còn những người khác thì không ngại gì), đều nên thẳng thừng, đanh gọn, nói rõ chuyện lợi – hại để bệnh họ dễ được lành, nhờ đấy cái danh của ông cũng được rạng rỡ. Thông thường y sĩ chỉ biết trị bệnh, chẳng nói đến chuyện kiêng kỵ cho căn bệnh, huống là chịu dạy người ta sửa lỗi hướng thiện để vun đức tích phước ư? Đấy chính là tâm hạnh của kẻ bán hàng rong chỉ mong cầu lợi ngoài đường, ngoài chợ, chứ không phải là tâm hạnh cứu vớt người, khiến cho cõi đời đều được sống lâu, huống là có thể khiến cho người ta do bệnh tật sẽ được vô thượng lợi ích “sống thì dự vào bậc thánh hiền, mất đi trở về cõi Cực Lạc” ư!



Cổ nhân nói: “Bất vi lương tướng, tất vi lương y” (Chẳng làm vị tể tướng giỏi thì làm thầy thuốc giỏi). Do vậy, gọi vị y sĩ là “đại quốc thủ”. Trong thế gian, y sĩ danh phận đã cao tột bậc, nếu kiêm dùng Phật pháp, nhờ vào đó để độ chúng sanh, hành Bồ Tát đạo, thật là nghề nghiệp quan trọng nhất trong hết thảy các nghề. Do con người trong khi bệnh hoạn, được nghe một y sĩ chẳng chuyên cầu lợi, có chí mong lợi người, phát Bồ Đề tâm bảo ban, ắt có thể khiến cho bệnh được lành thì tự mình chẳng thể sanh lòng chánh tín hành theo ư? Muốn gây lòng tin nơi người khác, chớ nên tính toán [bệnh nhân sẽ] tạ lễ nhiều hay ít rồi sanh phân biệt. Nếu với kẻ giàu bèn tích cực chữa trị, với người nghèo chỉ đãi bôi cho xong chuyện, lâu ngày người ta sẽ vì y sĩ hám lợi mà khinh thường, dẫu có nói những câu tạo lợi ích cho kẻ khác, người ta cũng chẳng tin theo.



Lại hãy nên gặp cha nói từ, gặp con nói hiếu, anh nhường, em kính, chồng hòa, vợ thuận, chủ nhân từ, tớ trung thành và nhân quả báo ứng thấu suốt ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai), sanh tử luân hồi trong sáu nẻo. Hễ có thể nói được với ai thì chẳng ngại gì hữu ý vờ như vô ý nhàn đàm, khiến cho người nghe dần dần mở mang tâm địa, biết sanh tử luân hồi đáng sợ, may là có pháp để liễu sanh thoát tử! Người làm được như vậy thì thật sự có thể gọi là “dùng pháp thế gian để hành Phật pháp, dùng trị bệnh nơi thân để chữa bệnh nơi tâm!” 

(Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tục Biên, quyển Thượng, Thư gởi cư sĩ Mã Tinh Tiều)
Theo Đường Về Cõi Tịnh.

___________________

Thuồng luồng - Quái vật đáng sợ nhất dân gian Việt Nam thực chất là con gì?

Thuồng luồng - Quái vật đáng sợ nhất dân gian Việt Nam thực chất là con gì?

Từ xưa đến nay, trong lịch sử dân gian Việt Nam vẫn lưu truyền sự đáng sợ của thuồng luồng, loài vật với sức mạnh vô song và quyền năng vô hạn.


Trong văn hóa Việt từ xưa đến nay, thuồng luồng vẫn xuất hiện như một loài thủy quái to lớn, thường sống dưới nước, có hình thù như con rắn nhưng có 4 chân, có mào và to lớn hơn nhiều.
Có nhiều truyền thuyết, giai thoại cổ về thuồng luồng. Có nơi kể rằng, chúng thường rình rập để kéo con người xuống nước ăn thịt.
Cũng có người kể lại, thuồng luồng chỉ ăn thịt kẻ ác khi chúng đi sông nước, còn đối với người lương thiện, thuồng luồng sẽ dùng quyền năng của mình để ban của cải, châu báu.
Thuồng luồng và tục xăm mình tại Việt Nam
Ngay từ ngàn xưa, đã có truyền thuyết kể về trận chiến kinh thiên động địa giữa Lạc Long Quân và loài thuồng luồng đáng sợ. Không chỉ có thế, chúng còn xuất hiện trong các ghi chép quan trọng từ thời Hùng Vương.
Thuồng luồng - Quái vật đáng sợ nhất dân gian Việt Nam thực chất là con gì? - Ảnh 1.
Thuồng luồng theo mô tả dân gian, đầu có mào, thân hình rắn, có 4 chân, vô cùng to lớn.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: 
Vua nói: Người man ở núi khác với các loài thủy tộc; các thủy tộc ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại. 
Rồi vua bảo mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy không cắn hại nữa".
Điều đó cho thấy, tục xăm mình của người Việt có thể bắt nguồn từ nỗi sợ hãi loài vật nổi tiếng trên. Tục lệ này được duy trì đến hơn 1000 năm, mãi đến thời vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt.
Ở một góc nhìn khác, chúng ta có thể thấy rằng, tục xăm mình trên tồn tại là do nỗi sợ sông nước mang tính vô thức, mà cụ thể ở đây là thuồng luồng của người Việt xưa.
Và tục lệ đó cũng chấm dứt khi mà ở triều Trần, sức mạnh thủy quân của chúng ta đạt đến đỉnh cao.
Thuồng luồng và những truyền thuyết nổi tiếng nhất
Tương truyền, vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) trong một đêm mơ thấy có người từ trên trời xuống báo mồng rằng:
Thuồng luồng - Quái vật đáng sợ nhất dân gian Việt Nam thực chất là con gì? - Ảnh 2.
Hình minh họa
Ba năm sau, đất nước sẽ bị giặc đến xâm lấn, cho nên thủy thần đầu thai làm con vua, để sau này đánh giặc, giữ nước, đem hòa bình cho bách tính.
Từ đó, nàng Nguyễn thị Hạo, vợ vua mang thai suốt 13 tháng, sinh hạ Hoàng Lang, một người con trai thân hình to lớn, sau lưng có 28 vết hằn giống như vẩy rồng vậy.
Một thời gian sau, giặc Vĩnh Trinh làm loạn nơi phương Bắc, Hoàng Lang xin cha mẹ 5000 quân đi đánh giặc. Chàng lắc mình 1 cái, bỗng biến thành thanh niên khôi ngô tuấn tú.
Sau khi chiến thắng trờ về, Hoàng Lang được nhà vua ngỏ ý nhường ngôi nhưng nhất quyết không nhận và chỉ xin phép cha mẹ trờ về thủy quốc.
Trên bến hồ Tây, Hoàng Lang biến thành một con thuồng luồng to lớn và biến mất trong làn nước sâu thẳm.
Không chỉ có thế, vẫn còn 1 truyền thuyết nổi tiếng về thuồng luồng liên quan đến cụ Chu Văn An.
Thuồng luồng - Quái vật đáng sợ nhất dân gian Việt Nam thực chất là con gì? - Ảnh 3.
Hình minh họa
Theo Lĩnh Nam Chích Quái, khi danh sư Chu Văn An mở trường dạy học ở quê nhà, có một học sinh rất chăm chỉ, ngày ngày đến sớm nghe giảng, nhưng tung tích lại vô cùng bí ẩn.
Cụ Chu Văn An bèn cho người theo dõi, thấy rằng chàng học trò nọ cứ đến khu đầm Đại thì biến mất nên mới biết là thủy thần.
Năm đó, hạn hán hoành hành, danh sư Chu Văn An thương xót dân tình, bèn cho gọi chàng trai và mở lời nhờ cậy.
Chàng nho sinh ngần ngại 1 lúc rồi thưa lại:
" Luật trời rất nghiêm nhưng lời thày bảo cũng rất trọng. Trái ý trời không thể tránh khỏi tội nhưng huỷ thân mình để hoàn thành điều nhân, lời dạy của thánh nhân từ xưa không thể bỏ, nay sao dám chối từ…
Con vâng lời thầy là trái lệnh Thiên đình, nhưng con cứ làm để giúp dân. Mai kia nếu có chuyện gì không hay, mong thầy chu toàn cho".
Sau 1 một con mưa lớn, nhân dân được cứu nhưng sáng hôm sau mọi người phát hiện xác một con thuồng luồng nổi lên trên đầm.
Cụ Chu Văn An biết là học trò mình vì nhân dân phạm tội tày trời nên vô cùng thương tiếc và làm lễ an táng trịnh trọng. Hiện tại, nơi đây chính là đình Linh Đàm hiện nay.
Vậy chính xác thì thuồng luồng là loài vật nào?
Cho đến nay, vẫn còn vô cùng nhiều những tranh cãi liên quan đến việc thuồng luồng thực chất là loài vật nào.
Có người cho rằng đó là một loài rắn vô cùng lớn, giống loài Trăn anaconda nhưng to hơn nhiều lần. Cũng có nơi lại nói đó là loài cá sấu khổng lồ hay sinh sống ở những đầm lầy, sống nước.
Thuồng luồng - Quái vật đáng sợ nhất dân gian Việt Nam thực chất là con gì? - Ảnh 4.
Hình minh họa
Ngoài ra, thuồng luồng còn được liên tưởng đến loài giải khổng lồ (giải là tên thường gọi của loài ba ba cỡ lớn, hay phân bố tại miền Bắc của Việt Nam), hay sinh sống tại các con sông lớn.
Nhưng trên thực tế, đó vẫn chỉ là những suy đoán từ dân gian. Vẫn chưa có bất kỳ bằng chứng khoa học nào cho giả thuyết thuồng luồng là một loài động vật có thật.
Nhưng với những miêu tả như: Thuồng luồng có hình dáng giống rắn, có 4 chân và to lớn hơn nhiều thì nếu thuồng luồng thực sự tồn tại, có lẽ chúng sẽ giống loài cá sấu khổng lồ thời cổ đại. 
theo Trí Thức Trẻ

TIN ĐỌC NHIỀU