HOTLINE - 0978797763

PHAPTUE.COM - PHẬT GIÁO | SỨC KHỎE | LÀM ĐẸP - UY TÍN TỪ CHẤT LƯỢNG
  • Bán Rượu Hạt Cau - chữa đau răng viêm lợi

    Chuyên cung cấp sỉ và lẻ rượu hạt cau chất lượng chữa đau răng, viêm lợi, răng lung lay tại Tphcm, Hà Nội, Ship Hàng toàn quốc

  • Chữa Đau Răng Hiệu Quả Và Các Bệnh Về Răng Lợi

    Nơi Bán Rượu Cau Uy Tín nhất, hiệu quả nhất

Hiển thị các bài đăng có nhãn PHẬT PHÁP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHẬT PHÁP. Hiển thị tất cả bài đăng

Câu Chuyện Niệm Lực Có Sức Mạnh Phi Thường Của Một Vị Hòa Thượng

Thời thiếu niên đã xảy ra số việc bên người, có tác dụng thúc giục mạnh mẽ ngài [hòa thượng Hải Hiền] kiên định, không thay đổi bước vào con đường xuất gia những ngày tháng sau này.


Hòa Thượng Hải Hiền

Tính tình thím Tám của hòa thượng không tốt, rất bá đạo, thường xuyên đánh mắng người và hàng xóm. Có một lần lúc bà ta đánh mắng Thím Năm, đã xé rách lột sạch sẽ quần áo của thím Năm. Về sau rất nhiều sự việc liên tiếp xảy ra trên người, đều ứng với câu tục ngữ: ác hữu ác báo. Thím Tám sinh được bốn đứa con trai, đều chết yểu; lưỡi thím Tám cứ bị răng của chính mình cắn thủng (chính là tục ngữ người ta nói “nhai cuống lưỡi”), cứ chảy máu tươi, cứ thế cho đến cả cái lưỡi đã bị chính mình nhai mất, cơm cũng không ăn được. Về sau, thím Tám khi ở cữ sanh con gái vào năm 32 tuổi, chết một cách đau đớn.


Tình cảnh bi thảm vào lúc bà ta chết, làm cho chị của Hòa thượng Hải Hiền sợ đến bị triệu chứng thần kinh. Bác Tám tự mình cũng vừa tức vừa bệnh vĩnh biệt nhân thế. Mẹ của hòa thượng Hải Hiền nhìn thấy thím Tám ngày đêm sáng tối thị phi, sau cùng hình dạng chết đi rất khó coi, thì nói cho hòa thượng Hải Hiền biết, nhất định phải ghi nhớ, tuyệt đối không thể học bà ta. Bà nói với hòa thượng Hải Hiền: “Đối người phải hòa thiện khoan hậu, tuyệt đối đừng làm ác tạo tội!” Lời của mẹ đã khắc sâu vào trong tâm trí của hòa thượng.


Ngoài ra, một việc cũng ảnh hưởng rất lớn đối với hòa thượng Hải Hiền lúc nhỏ. Một lần, ngài trồng được một trái bí đao lớn, bị em trai họ trộm mất. Hòa thượng ba ngày liên tiếp không ngừng nhắc mãi: “Ai trộm mất bí đao của tôi, thì cho người đó nổi mụn nhọt, bị bệnh.” Ai dè sau ba ngày, em trai họ của hòa thượng bị nổi mụn bệnh thật, nằm liệt giường, khổ nói không nên lời. Sau khi thím biết được, tìm đến ngài nói: “Con đừng niệm nữa, em trai con chỉ là hái một trái bí đao, thì con trù đến nó toàn thân mọc mụn nhọt, đau đến kêu cha kêu mẹ luôn.” vHòa thượng Hải Hiền kinh ngạc vô cùng, lòng nghĩ: Ý nghĩ của con người thật có sức mạnh đến như vậy sao? Thế là lập tức chữa lại niệm rằng: “Mau làm cho em ấy khỏe lại đi! Mau làm cho em ấy khỏe lại đi!” Bệnh của em trai họ thật sự được khỏe lại nhanh chóng.


Niệm cái gì thì sẽ hiện cái đó, nên không thể niệm ác được nữa. Bất kể có phải là trùng hợp hay không, từ đó về sau, ngài cũng không dám trù người nữa, không dám oán hận người nữa. Việc này làm cho ngài hiểu rằng sự bất khả tư nghì của niệm lực. Tuy rằng ngài không đọc qua sách Thánh hiền, không học qua kinh điển của Thánh hiền, thế nhưng, bản tánh ngài lương thiện, tâm địa thanh tịnh từ bi, thường xuyên có thể đạt được sự lợi ích trong cuộc sống hằng ngày.


Theo lời đồn, vào năm Hòa thượng Hải Hiền 18 tuổi, chân của hòa thượng mọc mụn độc, lỡ loét mảng to, rất nặng. Mẹ cầu thầy tìm thuốc khắp nơi cho ngài, đều không có cách cứu được ngài. Sau cùng ngài hiểu rằng, đây là bệnh nghiệp chướng, ngài hiểu được nhân quả báo ứng, than oán rằng: “Diệu dược nan y oan nghiệp bệnh.” Thế là vứt bỏ thuốc men, chuyển lại cầu Quán Âm Bồ Tát.


Dân gian Trung Quốc không ai không biết Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, có cầu có ứng. Vì thế ngài một lòng rất chân thành xưng niệm Thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Sau khi niệm hơn một tháng, mụn độc tự nhiên khỏi. Đây là cảm ứng! Cho nên ngài đối với Quán Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn tin sâu không nghi, lại càng tin chắc Bồ Tát thật sự từ bi, tuyệt đối không có vọng ngữ. Niệm Phật, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát thật có thể giải quyết vấn đề.


Danh hiệu công đức bất khả tư nghì, niệm lực bất khả tư nghì. Thế nhưng tại sao có người niệm thì không linh, ngài niệm thì linh vậy? Đó là vì ý niệm của ngài thuần, ngài chuyên tâm, không có vọng tưởng và tạp niệm nhiều. Nếu là một lòng chuyên niệm, niệm niệm đều sẽ linh nghiệm. Hòa thượng Hải Hiền bản tính thật thà, nghe lời, thật làm, có tâm chân thành, tâm thanh tịnh và tâm cung kính. Đầy đủ những điều kiện này, ngài niệm thì hữu hiệu. Là lòng tin và niệm của ngài đã trị khỏi bệnh cho chính mình.


Từ đó, Hòa thượng Hải Hiền biết rằng đường sanh tử hiểm, tử sanh là việc lớn. Thế là ngài sanh khởi tâm xuất ly. Năm ngài 19 tuổi, anh ba 22 tuổi vì bệnh mất sớm, điều này khiến cho hòa thượng Hải Hiền kiên định đến cùng quyết tâm xuất gia tu hành.

Trích Cuộc Đời Hòa Thượng Hải Hiền

Nguồn: Duongvecoitinh.com

Sức mạnh của việc thực hành lòng biết ơn (tri ân)

 Sức mạnh của việc thực hành lòng biết ơn (tri ân)


Thầy tôi dạy rằng: muốn tăng trưởng Phước đức mỗi ngày hãy khởi lòng biết ơn (tri ân). Tri Ân với tất cả vạn vật, từ những điều nhỏ nhất đến lớn nhất. 


Sức mạnh của việc thực hành lòng biết ơn



Như sớm mai mình mở mắt dậy, hãy cảm ơn bầu khí quyển tuyệt vời này đã dung chứa và cho ta không khí để hít vào, thở ra. Để ta tồn tại.


Khi ta khởi lòng biết ơn (tri ân) đến từ những điều hiển nhiên nhất, nhỏ bé nhất thì phước đức của ta ngay đó liền tăng trưởng chứ chưa cần làm gì quá lớn lao. Bởi vì Phật dạy rằng "Vạn Pháp Duy Tâm Tạo", lòng biết ơn chứa mức năng lượng hoàn hảo để nuôi dưỡng thân tâm ta và lan tỏa ra xoa dịu vạn vật.


Kiểm chứng sức mạnh của việc thực hành lòng biết ơn


Bạn có thể không tin rằng lòng biết ơn hay cảm xúc tri ân có sức mạnh, nhưng hãy nhớ lại rằng có phải khi bạn bên cạnh những người có gương mặt khó chịu hoặc tâm trạng đang giận dữ thì bạn cũng cảm thấy khó chịu theo không? 


Lòng biết ơn và lời nguyện cầu tốt đẹp giúp tăng trưởng phước đức



Còn khi bạn bực tức nhưng bạn ở gần một đứa trẻ con và đứa bé ấy chỉ cần nở nụ cười ngây thơ, hồn nhiên thì tâm trạng của bạn cũng lắng xuống dịu bớt. Đó là sức mạnh của năng lượng.


Sức mạnh của lời nguyện cầu tốt đẹp


Khi bạn cầu nguyện cho một ai đó hoặc cho rất nhiều người về những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với họ, ngay lúc này từ trường quanh bạn cũng đón nhận mức năng lượng tuyệt vời tỏa ra từ tâm bạn và lan tỏa ra, ngay đó bạn liền được Phước.


Rèn luyện thói quen cầu chúc điều tốt đẹp cho người khác sẽ giúp bạn ngày càng giảm đi những tính cách tham, sân, si của mình và tăng trưởng từ bi. Ngay đó cũng là tu tập, ngay đó phước đức liền tăng trường.


Phaptue.com


Chuyện lạ về bà cụ chữa bệnh bằng Tụng Kinh Niệm Phật

Bà Lê Thị Tâm (76 tuổi ở ngõ 78, phường Phương Mai, quận Đống Đa, TP Hà Nội) từng bị bệnh ung thư cổ tử cung ác tính, đã đi phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản T.Ư. Khi phẫu thuật xong, bà ăn chay niệm Phật tự điều trị vết thương cho mình. Cũng bằng phương pháp đó, bà đã giúp đỡ hàng chục người nhiễm HIV trở lại với cuộc sống…





TỪNG BỊ 15 CĂN BỆNH QUÁI ÁC


Bà Lê Thị Tâm sinh ra và lớn lên ở miền quê nghèo xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Năm bà 18 tuổi, tỉnh đội Thanh Hóa về thôn bà để tuyển dân quân đi công tác tại tỉnh Thái Nguyên. Khi đó bà Tâm chỉ cao 1m45, nặng 35kg, không đủ tiêu chuẩn tuyển. Thấy bà khóc nức nở, vì không được chọn, người chỉ huy an ủi bà và bảo, nếu bà nâng được cái cối đá nặng gần 50kg họ sẽ đề xuất với lãnh đạo cho bà đi dân quân lần này. Mọi người hoàn toàn bất ngờ trước việc cô gái nhỏ bé lại có thể nâng được một vật lớn hơn cả cân nặng của mình.


Sau đó bà được nhận đi dân quân trên Thái Nguyên. Tuy sức vóc bà nhỏ bé, nhưng trong đơn vị bà làm việc không kém bất kỳ chị em nào. Lần nào đơn vị thi bắn, bà cũng đạt số điểm cao nhất, ba vòng mười. Năm 1965, bà được cơ quan cử đi học cơ điện tại thị xã Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Học xong bà được phân công làm Trưởng ban Giám sát điện năng quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội.


Nhưng rồi bệnh tật đã khiến bà phải rời xa công việc. “Tôi đang khoẻ mạnh bình thường, không hiểu sao bệnh tật lại nhiều thế. Ban đầu là bệnh viêm đầu thống, rối loạn thần kinh tiền đình, sau đó là hàng chục căn bệnh nan y khác. Trong đó, bệnh lao phổi là nguy hiểm nhất, bảy năm trời tôi đi hết bệnh viện này, đến bệnh viện khác để chụp chiếu, điều trị. Khổ nỗi cứ chữa được bệnh này khỏi, bệnh khác lại phát sinh. Lúc cao điểm nhất tôi bị không dưới 15 bệnh”, bà Tâm nhớ lại.


TÌM ĐƯỜNG ĐẾN PHẬT


Người viết bài không có ý định cổ súy cho mê tín dị đoan, mà chỉ nói về đức tin về thần Phật của một con người, để chiến thắng bệnh tật. Vốn từng tham gia nhiều hoạt động xã hội, từng vào sinh ra tử trong chiến tranh chống thực dân Pháp, bà Tâm chưa bao giờ tin vào tâm linh, cũng như thánh thần. Khi bệnh tật trong người làm sức lực kiệt quệ, bà Tâm đã đi đến nhờ nhiều bệnh viện chữa trị, trong suốt nhiều năm trời, nhưng bệnh tình càng ngày nặng hơn. Vì thế bà đã tìm đến thần Phật.


Bà Tâm đến gặp hòa thượng Thích Tâm Tịch (trụ trì chùa Quán Sứ lúc đó), giảng giải cho bà về kiếp luân hồi của con người, nói về khổ đau của người bệnh là có từ kiếp trước. Đồng thời, hướng dẫn cho bà Tâm cách đọc kinh sách để giảm đi nỗi đau bệnh tật. “Thay vào việc đến các bệnh viện điều trị bệnh, tôi ở nhà tụng kinh. Và điều kỳ diệu đã diễn ra, trong suốt 10 năm tôi không phải đi bệnh viện, sức khoẻ của tôi ổn định”, bà Tâm nhớ lại.


Nhưng bệnh tình của bà Tâm cũng chỉ được ổn định được một thời gian. Đến tháng 10/2010, khi bà đang làm việc bỗng thấy âm hộ bị ra máu, các con bà thấy lo lắng quá đưa bà sang Bệnh viện Thanh Nhàn để khám, họ nghi vấn bà bị ung thư cổ tử cung và giới thiệu cho bà sang Bệnh viện K (Hà Nội). Theo kết luận của Bệnh viện K, bà bị bệnh ung thư cổ tử cung ác tính. Cả gia đình giấu không cho bà biết vì sợ bà bị sốc, suy sụp.


Trái với sự lo lắng của mọi người, bà Tâm điềm tĩnh, hằng ngày bà vẫn ăn uống, làm việc bình thường. Mọi người trong gia đình muốn đưa bà đi phẫu thuật càng sớm càng tốt. Nhưng bà Tâm cương quyết không đến viện phẫu thuật, thay vào đó mỗi khi lên cơn đau bà mang kinh sách ra tụng. Mỗi lần tụng kinh cơ thể bà dễ chịu bớt đau đi nhiều. Tuy nhiên, căn bệnh của bà đã trầm trọng, khối u trên cơ thể của bà đã chuyển sang giai đoạn cuối, hoại tử, vỡ ra và chảy như một vòi nước. Nhờ các con đưa đi cấp cứu bà mới thoát khỏi cái chết. Sau đó bà được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản T.Ư.


KHỎI BỆNH NHỜ NIỆM PHẬT


Bà Tâm cho biết, bởi căn bệnh ác tính mang phải, ngay sau phẫu thuật xong, bà phải chuyển sang Bệnh viện Bạch Mai để xạ trị bằng máy gia tốc. Theo phác đồ điều trị của BS Phương khi đó, bà phải xạ trị 30 lần. Nhưng bà mới xạ trị chưa được nửa số đó thì vùng tiết niệu bị phù, không thể đi tiểu. Cơ thể mệt mỏi, bà đã xin với bác sĩ không xạ trị nữa. Bà không còn sức lực để điều trị. Về nhà hằng ngày bà mang các loại sách kinh Phật để tụng niệm, kết hợp với ăn đậu đen rang vàng, hạ thổ và uống thuốc Đông y.


Bà Tâm lấy cho chúng tôi tờ giấy kiểm tra sức khoẻ tại Bệnh viện Thanh Nhàn cuối năm ngoái, thật bất ngờ, khối u của bà đã biến mất hoàn toàn trên cơ thể. Sức khoẻ của bà ổn định. Đến khi nhìn vào tờ kết quả đó bà cũng không ngờ kỳ diệu đến thế. Bà Tâm bảo, nhiều người cho rằng bà khỏi căn bệnh nan y đó là nhờ thần Phật cứu giúp. Nhưng với bà đơn thuần đó là sự lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống. Bà chưa bao giờ tuyệt vọng kể cả trong sự đớn đau tận cùng của cơ thể. Bà khỏi bệnh nhờ kết hợp Đông y, Tây y và Phật pháp.


TỤNG KINH, NIỆM PHẬT CHỮA… HIV


Tôi thực sự bất ngờ khi bà Tâm nói rằng phương pháp niệm Phật đã giúp cho nhiều người có căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS khoẻ mạnh và tin yêu trong cuộc sống. Từ năm 2006, bà Tâm đã kết hợp với GS.TS Phan Thị Phi Phi (trường Đại học Y Hà Nội), Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người, áp dụng phương pháp tụng kinh niệm Phật để chữa trị cho những người bị HIV/AIDS.


Năm 2006, các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trên 28 bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó có 20 trường hợp nhiễm bệnh sớm và trung gian, 8 trường hợp muộn mới xét nghiệm. 23 bệnh nhân đầu tiên đều được xét nghiệm 2 lần (trước và sau tụng niệm). Kết quả cho thấy, đa số các bệnh nhân khi tụng kinh, niệm Phật đều tăng các thành phần miễn dịch tế bào, đặc biệt họ không chuyển sang giai đoạn AIDS, sức khoẻ của họ tốt hơn trước đó. Tuy nhiên, theo bà Tâm đó là những kết quả ban đầu.


Bà Tâm bảo, căn bệnh này y học hiện đại của thế giới cũng đã phải bó tay, nhưng điều kỳ diệu là bà đã truyền cho họ ngọn lửa của tình yêu cuộc sống. Nhờ tụng niệm mà nhiều người từ sức lực kiệt quệ, muốn tìm đến cái chết đã sống khoẻ mạnh.


Theo sự chỉ dẫn của bà Tâm, chúng tôi đã đến gặp gia đình anh Nguyễn Quốc Khanh (thôn Mạch Tràng, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, TP Hà Nội). Anh Khanh buồn bã cho biết, mấy năm trước vì bị bạn bè rủ rê đi chơi bời, quan hệ tình dục với gái mại dâm nên anh đã mắc bệnh. Năm 2007, thấy trong người mệt mỏi, đi khám mới biết mình bị nhiễm HIV. Thật buồn bã thay, người vợ và con trai út của anh cũng bị nhiễm bệnh. “Tôi vốn hiền lành, khi bị bệnh mọi người rất bất ngờ. Trước đây sức khoẻ của tôi rất yếu, chỉ nằm một chỗ. Từ khi gặp bà Tâm, bà đã dạy tôi đọc kinh Phật. Vì thế sức khoẻ và tinh thần được nâng cao. Hơn một năm nay tôi đã đi làm, có lương hằng tháng để nuôi vợ con”, anh Khanh cho biết.


Bà Tâm nói: “Theo đạo Phật thì con người có số phận, bệnh tật là do Nghiệp gây ra. Nếu ai đó tu dưỡng, trì tụng bằng kinh Phật tốt thì Nghiệp có thể thay đổi, bệnh tật có thể sẽ khỏi. Và nếu như ai đó muốn thực hiện phương pháp này đầu tiên phải có đức tin, tin tưởng vào Phật pháp mới giúp con người ta chiến thắng bệnh tật”.


(Theo báo Kiến Thức)

(Theo duongvecoitinh.com)

Thông Tin Chính Thức - Hung thủ gây án mạng ở chùa Bửu Quang không phải tu sĩ

Cũng trong hôm nay, thông tin xác minh từ Ban Trị sự GHPGVN quận Thủ Đức trong báo cáo do HT.Thích Nhựt Giác ký, cho biết thêm: Ngô Văn Huy, pháp danh Thiện Huy là người đời, chưa phải là người xuất gia, chưa đăng ký tu sĩ Phật giáo tại địa bàn quận Thủ Đức.

Hôm nay, 6-10, Ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN TP.Hồ Chí Minh đã ra thông báo gửi Tăng Ni, Phật tử bày tỏ ý kiến của Ban Trị sự GHPGVN Thành phố đối với vụ việc nghiêm trọng xảy ra vào ngày 5-10-2016 tại chùa Bửu Quang, quận Thủ Đức.





Theo đó, thông báo nhận định: "Vụ việc xảy ra tại chùa Bửu Quang (phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức) là một vụ án nghiêm trọng, đang được cơ quan chức năng thụ lý và điều tra. Do đó, mọi thông tin có liên quan đến vụ án phải đợi kết luận của cơ quan điều tra và sẽ được xử lý đúng theo quy định của pháp luật".

Thông báo cho biết: "Ngô Văn Huy, pháp danh Thiện Huy - người trực tiếp gây ra án mạng chỉ là một tín đồ bình thường, không phải là tu sĩ Phật giáo, chỉ vào chùa tu gieo duyên (tập tu) khoảng 4 tháng nay theo truyền thống của Hệ phái Phật giáo Nam tông kinh. Tuy nhiên, trụ trì chùa Bửu Quang không đăng ký người nhập tu theo quy định của Nội quy Ban Tăng sự Trung ương, Thông tư 005/TT.HĐTS và pháp luật.

Ban Tăng sự GHGPVN TP.Hồ Chí Minh sẽ phối hợp với Ban Trị sự GHPGVN quận Thủ Đức tiến hành kiểm tra việc tiếp nhận người vào tu gieo duyên tại chùa Bửu Quang. Sau khi có kết quả, căn cứ Nội quy Ban Tăng sự Trung ương GHPGVN, tùy theo mức độ vi phạm, Ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN TP.Hồ Chí Minh tiến hành xử lý nghiêm để chấn chỉnh việc tiếp nhận người nhập tu”.
Thông báo do HT.Thích Thiện Tánh, Phó Chủ tịch HĐTS, Phó ban Thường trực BTS GHPGVN TP.HCM thay mặt Ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM ký.



Cũng trong hôm nay, thông tin xác minh từ Ban Trị sự GHPGVN quận Thủ Đức trong báo cáo do HT.Thích Nhựt Giác ký, cho biết thêm: Ngô Văn Huy, pháp danh Thiện Huy là người đời, chưa phải là người xuất gia, chưa đăng ký tu sĩ Phật giáo tại địa bàn quận Thủ Đức; Huy sinh năm 1995 tại Nghệ An, thường trú xóm 11 Quỳnh Lâm, Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, có bệnh tâm thần trước, vào chùa trị bệnh.

Nạn nhân là các sư Nguyên Tuệ (thế danh Nguyễn Văn Mạo), sinh năm 1952 tại Hà Tĩnh, xuất gia tu học năm 2010 đang an cư tại chùa Bửu Quang, quận Thủ Đức trị bệnh cho Huy, không ngờ Huy lên cơn, xuống bếp lấy dao đâm sư Nguyên Tuệ, sư kêu cứu, các sư và Phật tử rượt đuổi khống chế Huy. Sư Thiện Đức (thế danh là Trần Minh Đức), sinh 1982 tại Khánh Hòa, thường trú tại Minh Thọ, Minh Hòa, Khánh Hòa, là khách Tăng đến thăm sư Nguyên Tuệ, bị chém trúng đầu. Sư Thiện Lĩnh (thế danh Lê Văn Lĩnh), sinh năm 1974 tại Nghệ An, thường trú Nghi Kim, TP.Vinh, tỉnh Nghệ An, đang tu học tại chùa chạy đến tiếp cứu, bị chém trúng chân. 

Trước tình thế nguy hiểm đó, các sư rượt đuổi Huy chạy qua khu Tu nữ, gặp tu nữ Diệu Tâm (thế danh Huỳnh Thị Ngọc), sinh năm 1913 tại Vĩnh Bình, Huy chém nhiều nhát dao nơi cổ khiến vị tu nữ 103 tuổi này ngã quỵ, quý Sư và Phật tử đưa tu nữ và các sư bị nạn đến bệnh viện Thủ Đức và bệnh viện Quân đội Dĩ An, trên đường đi tu nữ Diệu Tâm đã tử vong, 3 sư bị thương tích đang điều trị tại bệnh viện Thủ Đức.

Công an TP.Hồ Chí Minh, Công an quận Thủ Đức và phường Bình Chiểu đã khống chế Huy đưa về cơ quan điều tra và khám nghiệm hiện trường.

Trong thời gian xảy ra vụ việc nghiêm trọng trên, sư Thiện Minh, trụ trì chùa Bửu Quang đang đi công tác (có báo cáo với các cấp Giáo hội). Như Giác Ngộ online đã thông tin, PV Báo Giác Ngộ đã cố gắng liên lạc với ĐĐ.Thiện Minh nhưng số điện thoại di động của Đại đức cho đến nay không liên lạc được.



11 giờ trưa hôm nay, đoàn chư tôn giáo phẩm Ban Thường trực Ban Trị sự GHPGVN Thành phố do HT.Thích Thiện Tánh dẫn đầu đã đến chùa Bửu Quang thăm hỏi, thắp hương cầu nguyện nữ tu Diệu Tâm, thăm hỏi các sư bị thương tích đang điều trị tại các bệnh viện, thị sát tình hình và làm việc với các cơ quan chức năng.


(Nguồn: Báo Giác Ngộ)

Người Thích Bố Thí Nhưng Còn Tâm Sân Hận Tái Sanh Làm Thân Súc Sanh

Ngài An Thế Cao thường kể về nghiệp duyên tiền kiếp thần dị của mình mà người khác không thể hiểu nổi. Ngài kể rằng tiền kiếp của Ngài cũng là người xuất gia. 
Đương thời, Ngài có một người bạn đồng tu, tánh tình rất nóng nảy. Lúc gặp thí chủ nào làm không vừa ý thì bèn nổi tâm sân hận. Đã bao lần Ngài thường khuyên nhủ, nhưng tánh tình của vị tăng đó vẫn y nguyên. Hơn hai mươi năm sau, ngài An Thế Cao (thứ I) từ biệt vị tăng đó rồi nói:
– Tôi phải qua Quảng Châu để đền trả món nợ trong đời tiền kiếp. Thầy hiểu thâm sâu về kinh luận, lại tinh cần dụng tâm. Tuy nhiên, vì tánh tình của thầy nhiều sân hận, nên sau khi xả báo thân, sẽ bị thọ hình tướng ác quỷ. Nếu tôi chứng quả thánh thì nhất định sẽ cứu độ Thầy thoát tai ương.

Nói xong, ngài An Thế Cao bèn đi qua Quảng Châu. Đương thời, vùng đó bị nạn loạn lạc, giặc cướp nổi lên như ong. Giữa đường, Ngài gặp một thiếu niên từ xa đi tới. Gã thiếu niên đó bèn tuốt đao ra bảo:
– A ! Thầy tới đây để nạp mạng cho Ta !
Ngài bảo:
– Đời trước tôi thiếu ông một mạng, nên mới lặn lội bao dặm đường xa đến đây để đền trả. Vừa thấy tôi là ông liền khởi tâm sân hận. Đây chính là vì mối oán cừu chưa hóa giải xong!
Nói xong, Ngài an nhiên đưa đầu để bị chém, mà thần sắc chẳng chút kinh sợ. Không chút chậm trể, gã thiếu niên bèn vung đao chém đầu của Ngài. Đương thời thần thức bay qua nước An Tức, cũng đầu thai làm thái tử, tức là An Thế Cao (thứ II).
Trong đời Hán, hoạn quan tranh quyền. Giặc giã nổi lên không ngừng. Vì vậy, ngài An Thế Cao (thứ II) phải rời thành Lạc Dương, đến vùng Giang Nam để tiếp tục hoằng pháp. Ngài tự bảo:
– Trước tiên, Ta phải qua Lô Sơn, để hóa độ pháp lữ đồng học đời tiền kiếp.
Lúc đến Lô Sơn, Ngài cư trú tại am Đình Hồ. Theo ngài Huệ Viễn (334-417), trong quyển ‘Lô Sơn Lược Ký’ có ghi như sau: “Nơi đỉnh núi phía nam, dưới hồ Lâm Cung Đình, có một miếu thần. Dân chúng y theo danh tự của hồ mà đặt tên cho miếu thần la Cung Đình Hồ. Thần tại miếu Cung Đình Hồ, được ngài An Thế Cao cảm hóa. Sự tích vẫn còn ghi trong Tự Sơn Bắc Thiên”.

Tương truyền, miếu Cung Đình Hồ rất linh dị. Các thương nhân qua lại vùng đó, trước tiên phải cầu khẩn cúng bái, thì mới được bình an vô sự. Một gã nọ, lén lên núi để chặt tre, mà không chịu qua miếu lễ bái. Thuyền chở tre của gã đó vừa ra khỏi bến sông thì bị sóng đánh lật chìm. Các thương nhân thấy vậy, nên lại càng kính thờ thần miếu.
Hôm nọ, ngài An Thế Cao theo hơn ba mươi thương nhân lên thuyền để đến miếu thần đó. Đến nơi, các thương nhân đi vào thần miếu lễ bái, còn Ngài thì ở trên thuyền. Sau khi họ dâng cúng các phẩm vật để cầu được bình an xong, thần trong miếu bèn bảo họ:
– Trên thuyền có một vị hòa thượng, vậy hãy mời vị đó đến đây.
Thương nhân nghe thế kinh hoàng, bèn vội chạy ra thỉnh Ngài vào miếu. Vừa bước vào, Ngài nghe thần nói:
– Tiền kiếp tôi đã từng cùng với Thầy xuất gia tu đạo tại Tây Vực. Tuy thường hành bố thí, nhưng tánh khí nhiều sân hận, nên mới làm thần tại miếu Cung Đình Hồ này. Chu vi miếu một ngàn dặm, đều do tôi cai quản. Vì nhờ đời trước thường tu hành hạnh bố thí, nên nay mới được thọ vô số tài vật trân bảo vô giá. Tuy nhiên, do tâm sân hận, nên thọ quả báo làm ác quỷ, có thân hình to lớn xấu xa. Mạng tôi sắp dứt. Lúc chết, thân thể sẽ tiết ra mùi hôi thúi khắp sông hồ. Vì vậy, tôi phải lên nơi khe suối ở vùng núi phía tây mà chết. Sau khi chết, sẽ bị đọa vào địa ngục thọ khổ. Xin Thầy từ bi, mang tất cả đồ vật trân bảo mà thay tôi cúng dường Tam Bảo, cùng xây cất chùa chiền, khiến đời sau của tôi được sanh lên cõi lành.
Nghe qua lời này, ngài An Thế Cao (thứ II) bảo:
– Ta vốn đến đây để hóa độ ngươi. Sao không hóa hiện nguyên hình ?
Thần đáp:
– Tôi vốn có hình dạng ác quỷ xấu xa. Nếu hiện hình thì dân chúng chắc sẽ kinh sợ !
– Chỉ việc hiện hình ra là đủ. Dân chúng không sợ hãi đâu !



Từ trong đền thờ, xuất hiện ra một con thuồng luồng (mãng xà) to lớn, bò đến kế bên ngài An Thế Cao (thứ II). Ngài bèn thuyết pháp, và tụng thần chú bằng tiếng Phạn. Một lát sau, con thuồng luồng cảm động tuôn trào rơi lệ như mưa, rồi từ từ biến mất. Ngài bèn nhặt lấy các trân bảo, rồi cùng các thương nhân trở lên thuyền. Bấy giờ, mọi người đều thấy con thuồng luồng hiện nguyên hình trên đỉnh núi phía tây, thân dài cả mấy dặm. Vào lúc hoàng hôn, thuyền đang lướt trên sông, chợt có một thiếu niên xuất hiện, tiến đến cúi đầu đảnh lễ Ngài. Được Ngài chú nguyện ban phước lành xong, thiếu niên đó chợt biến mất. Ngài bảo các thương nhân:
– Thiếu niên kia vốn là thần miếu Cung Đình Hồ. Nay đã thoát thân ác quỷ và thăng lên cung trời.
Miếu Cung Đình Hồ từ đó không còn linh hiển nữa. Sau này, dân chúng địa phương phát hiện một xác con thuồng luồng to lớn, dài cả mấy dặm, nằm tại một khe suối về phía tây của ngọn núi Lô Sơn. Hiện nay, vùng núi đó có tên là Xà Thôn, quận Tầm Dương, ở Giang Tây.

Tháp Tự Ký ghi: “Chùa Ngõa Quan ở Đơn Dương, do sa môn Huệ Lập kiến lập vào thời Tấn Ai Đế. Sau này, sa môn An Thế Cao đem dư vật từ Cung Đình Hồ đến sửa chữa”.
Đền trả một phần nghiệp báo xong, Ngài cũng đến vùng Quảng Châu, tìm đến người thiếu niên giết mình đời trước, rồi kể lại nhân duyên tiền kiếp, để xả bỏ mối oan khiên xưa, hầu mong cùng nhau kết tình thân hữu. Gặp mặt nhau, Ngài lại nói với người đó:
– Tôi cũng còn một món nợ, chưa trả xong. Hiện tại phải đến nơi đó mà đền trả.
Người đó biết Ngài chẳng phải là phàm phu, nên cung kính cúng dường. Hôm sau, Ngài và người đó ra phố, gặp lúc hai gã nọ đang cầm cây đánh nhau. Một gã nọ chợt đánh nhầm vào đầu của Ngài, khiến Ngài phải vong mạng. Mục kích hai lần nhân quả báo ứng, người đó bèn phát tâm tinh cần tu tập Phật pháp, và cũng thường kể lại câu chuyện thật này cho người khác nghe. Bất luận người nào, hể nghe qua câu chuyện này cũng đều tin sâu lý nhân quả báo ứng trong ba đời.
Trích Thần tăng Thiên Trúc

Thích Hằng Đạt


________


Đôi nét về đại sư An Thế Cao:
Ngài An Thế Cao đối với cha mẹ rất là hiếu thảo, nên được dân chúng tán thán ca ngợi. Thiên tánh của Ngài rất minh mẫn, lại siêng năng học hành, nên thông suốt hết các điển tích ngoại quốc, cùng bảy diệu (mặt trời, mặt trăng, tinh tú), ngũ hành, y thuật, khí tượng, thiên văn. Quán xem sắc diện của người, Ngài liền biết bịnh tình, rồi chế thuốc thang mà trị bịnh cho. Nghe thinh âm của các loài cầm thú chim chóc đều biết qua ý của chúng. Lần nọ, đang đi trên đường, chợt có một đàn chim yến bay ngang, Ngài bèn bảo với đồng bạn:
– Những con chim yến kia bảo rằng lát nữa sẽ có người mang thức ăn đến cho chúng ta.
Chốc lát sau, quả nhiên ứng nghiệm có thật. Dân chúng nghe qua việc này rất đỗi kinh ngạc và thán phục Ngài. Vì vậy, thanh danh của Ngài từ đó lan truyền và chấn động khắp các nước ở Tây Vực, cùng được các quốc vương xa gần tôn kính.
Lúc còn tại gia học Phật pháp, Ngài thường nghiêm thủ giới luật rất cẩn mật, không có chút giải đãi. Ngài thường tụ hội dân chúng lại để giảng kinh thuyết pháp. Phụ vương vừa băng hà, Ngài bèn lên ngôi. Bấy giờ, vương triều Quý Sương (Kushans, 78-320; kiến lập nước Đại Nhục Chi) liên tiếp chinh phạt các nước ở phía tây, và uy hiếp nước An Tức. Ngài An Thế Cao thấy thế sự bất an, khổ, không, vô thường, nên đối với ngôi vua, Ngài rất chán chường khổ não. Do đó, lo an táng phụ vương xong, Ngài liền nhường ngôi cho người chú, rồi xuất gia học đạo, mà không lưu luyến gì với ngai vàng, chỉ một mực tinh tấn tu hành. Năm mươi năm sau khi Ngài viên tịch, nước An Tức bị diệt vong vì quần thần tranh ngôi vị.
Xuất gia xong, Ngài duyệt xem khắp tạng kinh thư, mà trong đó đối với luận học A Tỳ Đàm rất được tâm đắc. Ngài thường tụng trì thiền kinh nên hằng đạt được những sự vi diệu. Vì muốn hoằng dương Phật pháp, Ngài đi khắp các nước, nên rất thông thạo ngôn ngữ của các nước đó. Tạ Phu đời Tấn có viết: “Cao Tông bác thù tục, thiện chúng quốc chi âm”, nghĩa là ngài An Thế Cao hiểu rõ phong tục khác nhau của mỗi nước và thông thạo âm thanh ngôn ngữ của các nước đó. 
Trước khi qua Trung Thổ, lúc còn ở tại nước An Tức, cho đến khi tới Tây Vực, Ngài đã từng tinh thông tiếng Tàu. Đến đời Hán Hoàn Đế (147-167), vào khoảng năm ba mươi tuổi, Ngài qua Đông Độ tới đất Trường An. Với tài năng cao tuyệt, cơ ngộ mẫn tiệp, nên chỉ xem qua một lần về điều gì, Ngài liền liễu giải. Đến nơi, Ngài bắt tay ngay vào việc hoằng dương Phật pháp, và phiên dịch rất nhiều kinh điển, như kinh An Ban Thủ Ý, Âm Trì Nhập, Đại Thập Nhị Môn, Tiểu Thập Nhị Môn, v.v…
Xưa kia, có một vị tam tạng pháp sư, người Thiên Trúc, tên là Tố Chúng Hộ, đã từng soạn viết yếu nghĩa kinh tích thành hai mươi bảy chương. Ngài An Thế Cao căn cứ bộ trước tác đó, tuyển chọn ra bảy chương rồi dịch sang chữ Tàu, tức là bộ kinh ‘Đạo Địa’ ngày nay. Tổng cộng, Ngài phiên dịch được hơn ba mươi bộ kinh. Tất cả nghĩa lý đều rõ ràng trong sáng, và văn tự rất chính xác.
(Duongvecoitinh)

Chú Ba ở An Giang thuật cảnh Tịnh Độ trong 1 lần hi hữu viếng thăm

Khi về nhà, chú Ba thuật lại y hệt những gì mình đã nhìn thấy, và thuật lại y hệt mức độ tu hành của từng người bạn đồng tu. Ai tu niệm tinh tấn hay biếng nhác đều được Chú Ba chỉ ra y hệt.
Hình minh họa

____
Chú Ba, ở tỉnh An Giang, nước Việt Nam. Đã từng có một thời gian từng được đi thăm viếng cảnh Tây Phương Tịnh Độ, về nhà có thuật lại. Chú Ba An Giang là người tu hành tại gia được hơn 40 năm, tu một ngày 6 thời, tọa thiền niệm Phật, ăn chay trường, và ăn vào giờ ngọ trai.
Vào một lần nọ, Chú Ba đã được Đức Bồ Tát Quán Thế Âm báo cho biết rằng: “Ba ngày nữa, con sẽ được dẫn về cõi Tây Phương Tịnh Độ để viếng thăm”. Khi nghe như vậy, Chú Ba cũng còn hồ nghi, chưa tin liền vào điều đó. 

Nhưng qua đến ngày hôm sau, Chú Ba cũng được Đức Bồ tát Quán Âm thông báo y như vậy. Và lại tiếp tục đến một ngày thứ 3 nữa, Chú Ba cũng được báo y như vậy. Qua 3 lần được báo trước, Chú Ba mới thật sự khởi tâm tin thật vào điều đó.
Chú Ba liền mời các vị bạn đồng tu đến, để cùng hộ niệm, đưa tiễn Chú Ba đi thăm viếng nơi Tây Phương Tịnh Độ. Đồng thời, gia đình Chú Ba cũng có mời luôn cả một vị Y Sĩ đến để kiểm tra từng mạch cho Chú Ba. Chú Ba nói rằng: “Vào đúng 11 giờ, thì sẽ được Đức Bồ Tát Quán Âm đến rước”.

Quả thật, khi gần đến 11 giờ, mạch của Chú Ba yếu từ từ. Càng lúc, nhìn thấy Điện Tâm Đồ của Vị Y Sĩ nhỏ dần lại từ từ, và đến lúc tim của Chú Ba cũng ngừng đập hẳn hoi. Khoa học gọi trạng thái này là chết lâm sàng. Nhưng tại vì đã được báo trước, nên gia đình không ai sợ gì cả. Những người bạn đồng tu vẫn còn tiếp tục đang hộ niệm. Đó cũng chính là lúc Đức Bồ Tát Quán Âm dẫn thần thức của Chú Ba lên Tây Phương Tịnh Độ.
Khi lên Tây Phương Tây Độ, Chú Ba được tận mắt chiêm ngưỡng cảnh quan tuyệt đẹp. Chú Ba nhìn thấy có ao sen bảo trì, nước bát công đức, chín phẩm hoa sen. Ánh sáng rực rỡ, cảm giác rất mát mẻ và trong lành. Cảnh giới nơi đây được miêu tả y hệt trong kinh Quán Vô Lượng Thọ và Kinh A Di Đà, không hề sai gì hết.
Và có một điều rất mầu nhiệm: Mỗi khi ở cõi Ta Bà có ai đang niệm Phật, dài ngắn ra sao, biếng trễ ra sao, thì ở trên cõi Tịnh Độ, Chú Ba hoàn toàn nghe được hết, nghe rõ từng người một. Cho dù cách xa 10 muôn ức cõi Phật, nhưng vẫn nghe được hết.
Khi người tu tịnh độ ở cõi Ta Bà phát tâm tu hành, thì ở Tây Phương Tịnh Độ có nở ra những hoa sen. Có những hoa sen nở ra phát hào quang, nhưng cũng có những hoa sen bị héo úa. Nếu ai tinh tấn tu hành, thì hoa sen sẽ càng lớn và sáng ra. Nếu lúc trễ nãi, lui sụt, thì hoa sen sẽ gầy và rủ xuống. Do đó, ai đang tu Tịnh Nghiệp như thế nào, thì ở Tây Phương Tịnh Độ hiện ra hoa sen y như vậy.
Khi về nhà, chú Ba thuật lại y hệt những gì mình đã nhìn thấy, và thuật lại y hệt mức độ tu hành của từng người bạn đồng tu. Ai tu niệm tinh tấn hay biếng nhác đều được Chú Ba chỉ ra y hệt.
Trích từ Ánh sáng Phật pháp kỳ 22
Thích Trí Huệ & Thích Chân Tính
(Cư Sĩ Hoàng Trí ghi lại)
Tri Ân Công Đức Cư Sĩ Hoàng Trí đã bỏ tâm huyết nghe và ghi lại Câu chuyện này.
Xem chi tiết nội dung câu chuyện tại video, mọi người xem video từ phút 42:30s nhé:

Hai câu chuyện về người ít học nhưng đứng mà Vãng Sanh

Hai câu chuyện đứng mà vãng sanh sau đây sẽ giúp các bạn giải đáp thắc mắc rằng liệu những người ít học có thể vãng sanh được hay không?
____________________
Ðạo sĩ Vương Si Ðầu đời Thanh, người tỉnh Trực Lệ, tánh cực ngu. Cha mẹ mất, đói ăn, nằm mọp trong căn lều nát, không biết tính cách nào. Có ai cho tiền cũng chẳng biết dè xẻn. Trần đạo nhân bèn thâu gã làm đồ đệ, sai ngày ngày quét tước, hái củi, khóa chiều thì niệm Phật vài trăm câu, lễ bái, thắp hương làm lệ thường.
Vương tụng Phật hiệu chẳng thành câu, mỗi lúc hôn trầm sắp ngủ gục, ông Trần dùng gậy dài đập, quở:
– Mày đã ngu muội như vậy lại còn chẳng biết tinh tấn hay sao?
Suốt ba năm như thế. Một ngày kia, Vương ha hả cười lớn. Ông Trần lại đánh, Vương nói: “Hôm nay thầy đánh con không được đâu!” Thầy cật vấn lý do, Vương nói:
– Thầy ngồi như cây khô suốt mười tám năm, chẳng biết tu pháp. Nếu thầy có thể lễ niệm, thật thà như con thì đã sớm được sanh về Tây Phương thấy Phật rồi!


Ông Trần ngạc nhiên, nhưng không quan tâm đến lời ấy. Ngày hôm sau, Vương trèo lên Tiêu Nhai, đứng hướng về Tây, chắp tay qua đời. Trà-tỳ thu được hai viên xá lợi.
(Theo Nhiễm Hương Tập)
____________________

Thời Dân Quốc, bà A Ấu chẳng rõ họ tên, người huyện Ðài Trung tỉnh Ðài Loan, chỉ sanh được một đứa con gái, bắt con rể ở rể. Do một chữ chẳng biết nên chỉ thật thà niệm Phật. Phật thất mùa Xuân, mùa Thu ở chùa Linh Sơn, bà đều kiền thành tham gia. Bà thấy nam, nữ đồng tu đều mặc áo hải thanh, trang nghiêm chỉnh tề, liền lấy vàng để dành giao cho con rể đem bán, mong may được áo hải thanh tham gia Phật thất. Con rể chịu bỏ tiền ra may, khuyên bà đừng bán vàng. Ðến sáng sớm ngày thứ nhất của Phật thất, bà tắm gội, thay áo mặc áo hải thanh mới. Trong lúc đang thắp hương, đốt đèn, liên hữu là A Tam Muội đến rủ đi dự Phật thất. Bà Ấu nói:
– Cô đi trước đi, tôi lễ Phật tại nhà trước đã!

Bà mới hoan hỷ lạy ba lạy xong, chợt thấy thánh tượng của Tam Tôn xoay tròn, hương cũng xoay theo, càng nghĩ càng thấy kỳ, càng nhìn càng thấy chuyển. Bà liền đi kêu mấy liên hữu ở gần đến xem. Ai cũng bảo là chẳng thấy chuyển động. Chẳng nghe bà ừ hử gì, lúc quay đầu ngó lại, thấy bà đứng thẳng chắp tay, mỉm cười quy Tây rồi, thọ sáu mươi tám tuổi. Họ liền trợ niệm cho bà, lại dặn cả nhà đồng thanh niệm Phật.
(Theo Niệm Phật Cảm Ứng Kiến Văn Ký)
Nhận định:
Phật dùng thuyền từ phổ độ, khiến kẻ ngu phu, ngu phụ chỉ biết già dặn chắc thật niệm Phật. Một đạo sĩ si ngốc, một bà lão ngu ngơ trên đây tuy chưa từng thọ Tam Quy, Ngũ Giới nhưng do già dặn, chắc thật niệm Phật nên đứng chắp tay mà hóa, ắt họ đều thấy Phật đến tiếp dẫn, vãng sanh Cực Lạc. Xin những kẻ tự cậy mình thông minh, chẳng chịu niệm Phật hãy biết chỗ quy hướng vậy!

Cư sĩ Dịch Viên Mao Lăng Vân cung kính sưu tập
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa chuyển ngữ

TIN ĐỌC NHIỀU